Nhân dáng NGUYỄN TRỌNG KHÔI

MONTMARTRE COFFEE – August / 2000

Nhân dáng NGUYỄN TRỌNG KHÔI
Qua sắc thái và thanh âm

 

Nguyễn Anh Văn

 

Nhân văn, theo triết lý cổ điển và văn học, con người và khả năng của họ là quan hệ chủ yếu. Định nghiã về nhân bản thay đổi qua các trào lưu văn hoá, trong đó, triết lý hoặc tôn giáo hoà điệu với sự hiểu biết hiện đại bao gồm cả cảm hứng, ý thức xã hội và cá nhân đầy ý nghiã. Suy tư về viễn ảnh của con người không phải là duy nhất mà còn bao hàm cả cảm giác để gây nhã hứng cho nghệ thuật và khoa học, nhân từ và bình phẩm. Trong phê bình còn có cả sự khoan dung để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của con người và một đời sống khác thích hợp với ý muốn.

Đi tìm vóc dáng Nguyễn Trọng Khôi(NTK) hay nói cho đúng hơn là đi tìm nhân tính NTK vùi sâu dưới khối màu sắc của các hoạ phẩm và ký thác tâm tư qua các nốt nhạc là làm một cuộc hành trình trở về cội nguồn và tình người Việt Nam để nhận thức rằng “không nơi nào đẹp bằng quê hương mình” – như người ta vẫn thừơng nói?

Xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, Việt Nam và bày tranh liên tiếp từ năm 1972 đến năm 1988 ở quê nhà, Nguyễn Trọng Khôi, sau các hoạ sĩ tiền phong Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Phan Chánh….. và dĩ nhiên, sau thế hệ thứ hai Duy Thanh, Thái Tuấn và cố hoạ sĩ Ngọc Dũng….., đã được liệt kê vào thế hệ thứ ba của Hội Hoạ Việt Nam và sinh hoạt chung với các hoạ sĩ Đinh Cường, Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Trịnh Cung, Nguyên Khai và Nguyễn Cao Nguyên…..vì một lẽ giản dị là ông không có bạn đồng hành sau khi ra trường. Ở trong nước, NTK đã nổi tiếng trong giới sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam qua các hoạ phẩm ‘Sân khấu khuya’, ‘Chờ cơm chiều’, ‘Chiến tranh’. ‘Vụ luá hè thu’…..

Sau khi đoàn tụ cùng gia đình tại Hoa Kỳ, Nguyễn Trọng Khôi lại như con thiêu thân lao mình vào vùng ánh sáng hội hoạ. Từ năm 1991 đến 1994, những cuộc triển lãm tại Gallery Four Hundred(Boston, MA), Asian Art Center(Strathmore,MD), Vietnamese American Art and Letter Association Gallery(Westminster,CA), Scollay Square Art Gallery(Boston, MA), Hill Library Gallery của Đại Học Hardvard(Boston, MA), Eclipse Gallery(Boston, MA) đã đánh dấu sự thành công của ông về cả hai phương diện nghệ thuật lẫn tài chánh.

Gần đây nhất, ngày 5 tháng 8 năm 2000, Nguyễn Trọng Khôi lại được dịp phô diễn tài nghệ trước hàng trăm quan khách Mỹ-Việt và được đón nhận nồng hậu qua 21 hoạ phẩm và 2 tuyển tập nhạc cùng nhiều điã và băng nhạc đã được trưng bày cũng như trình diễn tại Café Montmartre, Reston, Virginia, một nhà hàng thanh lịch nằm bên bờ hồ Lake Ann, cảnh trí tao nhã và là nơi thăm viếng thường xuyên của giới thưởng ngoạn nghệ thuật.

Nghệ sĩ tạo hình dùng màu sắc làm nền tảng cho hoạ phẩm. Anh sáng trong tranh do kỹ thuật của người vẽ trộn màu tạo thành. Nếu cấu trúc về màu sắc được phối hợp toàn hảo như hoà âm của một hợp tấu khúc, nếu đường nét thể hiện được chủ đề, bức tranh sẽ có một sắc thái(aspect) riêng biệt để gồng gánh tâm trạng của tác giả và tạo ra cảm giác đầy ắp về chiều sâu và không gian cho người xem tranh.

Nước Pháp lừng danh thế giới vì là nơi đã khởi xướng các trào lưu văn hoá vào thế kỷ thứ 19, trong đó, Gustave Courbet(1819-1877) khi bàn về Thực Thể Luận trong ngành vẽ đã cho rằng: ” Hội hoạ là một kết thể nghệ thuật thiết yếu và phải được áp dụng đúng sự thật vaò đời sống hiện tại”.

Trong số các hoạ phẩm triển lãm tại Café Montmartre, đa số là Hiện Thực, nhưng NTK không dừng lại ở một trường phái nhất định. Bút pháp(cọ hay dao) của ông mang tính đa diện với nhiều kiểu vẽ.

Phối hợp nghệ thuật và đời sống, NTK mô tả sự rung động của tâm hồn khi tiếp xúc với thiên nhiên. Ông đưa trí tưởng tượng của người xem thăm viếng làng mạc Việt Nam với sơn son, thếp vàng hoà hợp cuả “Đình Làng Cổ”. Khách xem tranh mới dợm bước đã vội dừng lại. Màu đỏ của cổng đình xui khiến khách dừng chân. Hình ảnh đơn sơ và mộc mạc trong tranh của thôn trang Việt Nam không thể bắt gặp ở những thành phố đầy ánh sáng văn minh.

Qua cổng làng, người xem bắt gặp một đồng luá chín vàng dưới ánh thái dương. Cánh đồng chiếm hơn hai phần ba kích thước bức tranh. Một chiếc bàn gỗ được đặt đối diện với đồng lúa. Trên bàn, một kính hiển vi nằm vắt ngang một cuốn sách mở rộng. Chẳng cần phải tinh ý, khách thưởng ngoạn cũng vẫn thấy một con châu chấu, đậu trên hàng dậu gỗ màu xám đục, ở góc dưới bên phải của bức tranh. Ở đây, một mảng của đời sống nông nghiệp đã được đưa ra trước công luận: châu chấu là loại côn trùng phá hoại mùa màng, chiếc bàn không có ghế, cuốn sách và kính hiển vi hàm ý khuyến khích những người có trách nhiệm cần phải cải tiến về nông nghiệp một cách khoa học hơn. Không giống như Honoré Daumier(1808-1879) và họa sĩ Choé của Việt Nam chuyên vẽ hài hước châm biếm về chính trị, NTK, có lẽ cũng giống như Jean Francois Millet(1814-1875) yêu đời sống mộc mạc của dân quê và muốn nhìn thấy đời sống của họ mỗi ngày một khá hơn, dựa vào phương thức canh tân của văn minh cơ giới.

Trong “Lúa vàng”, từ chiếc mẹt xám đen, những hạt lúa vàng óng ả ào ạt đổ xuống như một cơn gió lốc, lung linh, quay tròn trong không gian như đang mê man, cuồng dại trong một điệu luân vũ. Nhìn tranh, người ta liên tưởng ngay đến cảnh trai gái trong làng vừa đập lúa, giã gạo vừa hò hát những câu tình tứ vào những đêm trăng sau mùa gặt.

Trong một họa phẩm khác, “Mầm Sống”, tựa đề tác phẩm này khi sáng tác mang tên là “Tiếng Thét”, sau đó, tác giả đặt tên lại. Trong tranh, một hài nhi đứng bơ vơ trong vùng tranh tối tranh sáng của một đêm sắp tàn, một ngày chưa lên, trên bãi biển hoang vắng, mắt mở lớn, miệng há tròn nhưng dường như tiếng nói nghẹn trong cổ họng. Phía bên phải của hài nhân, một phần của chiếc thuyền gỗ mỏng manh trôi dạt vào bờ cát. Phía sau lưng, trời, nước giao nhau. Anh thái dương vẫn chưa ló dạng khỏi trần mây đen kịt. Phía trước mặt đứa trẻ, nghiêng về phía phải, một vùng ánh sáng trắng, trong suốt, lung linh trên mặt cát. NTK mô tả thảm cảnh của người Việt trên đường vượt biển tìm tự do với màu đen và xám đen được dùng nhiều để tiêu biểu cho sự sợ hãi, chết chóc. Hài nhi tượng trưng cho thuyền nhân Việt Nam “thấp cổ bé miệng”. Vùng trời nước u sầu, ảm đạm phía sau lưng là quá khứ mù sương. Vùng ánh sáng trước mặt là tương lai. Điểm dừng chân cũng đồng thời là mức khởi hành cho một cuộc đổi đời. Một hạt giống được gieo trên vùng đất tốt với điều kiện khí hậu thích hợp. Một cuộc sống mới lại bắt đầu khởi sự sau những đổ vỡ, tan hoang . Một “giấc mộng vàng” để ôm ấp như hàng triệu di dân vào đất Mỹ vẫn hằng mơ tưởng. Và đó là ý chính của tựa đề.

Trong “Tuyết Đầu Mùa”, họa phẩm được bố cục bằng 3 khối chữ nhật làm bối cảnh, theo chiều dọc. Trong mỗi khối là chân dung kiều diễm và khả ái của một phụ nữ trong chiếc áo ngự hàn, đội khăn, đứng dưới trời tuyết. Ánh nắng giao mùa của những ngày tàn thu, lập đông xuyên qua màn tuyết từ phía trên chiếu xuống, linh động trên cả ba khuôn mặt của một người mẫu mà sắc diện đã đổi thay từ trắng xanh sang trắng hồng đến màu trắng băng giá của tuyết phủ.

Dùng màu sắc tạo ánh sáng. Dùng bút pháp di động ánh sáng. Dùng ánh sáng để mô tả ảnh hưởng của thiên nhiên khiến cho cảm xúc của con người thay đổi, NTK đã cùng lúc, hé mở cánh cửa triết lý cho người xem tranh: Trái đất vẫn quay. Thời gian vẫn trôi. Vật đổi sao dời. Chỉ có sự đổi thay vẫn không bao giờ thay đổi.

Trong khung cảnh ấm cúng của Café Montmartre, khách xem tranh dừng lại trước hoạ phẩm “Vực Thẳm và Mây Trắng”. Một đám mây nõn lững lờ trôi trong bầu trời thiên thanh. Phiá dưới là một vực sâu hun hút giưã hai vách đá chọc trời. Theo NTK, đám mây tiêu biểu cho con người ở đỉnh bình yên thuở sơ sinh. Vực thẳm là sự thu hút, lôi cuốn con người vào vực sâu của vô ý thức. Cảm giác mông lung và huyền ảo của kẻ đứng bên bờ vực thẳm, biết mình sắp sửa rơi xuống và chết, nhưng chính giây phút đó, sự sống vẫn còn hiện hữu. Sự lôi cuốn và cảm giác đã được phô diễn cân bằng trong hoạ phẩm để thế giới của ảo tưởng có thể hội nhập vào đời sống thuần lý thường nhật thành một “thực thể tuyệt đối”.

Phần lớn các hoạ phẩm của NTK dù kiểu vẽ là Hiện Thực, Hiện Thực Biểu Hiện, Trừu Tượng hay An Tượng, những đường nét hầu hết đều tự do, mịn màng và đã đạt đến cao độ của mỹ thuật ảnh(Picturesque). Mới thọat nhìn, người xem tranh có thể lầm tưởng là những bức hình đã được một nhiếp ảnh gia nhà nghề ghi lại qua thấu kính. Cấu trúc đơn giản và hoà hợp, các bức họa tự nó thắp sáng chủ đề với nội dung đầy thi vị và màu sắc triết lý, tiêu biểu cho đời sống thật và mộng.

Nếu “Đình Làng Cổ”, “Đồng Lúa” và “Lúa Vàng” tạo cho khách xem tranh cái cảm giác ấm cúng, một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi, dù chỉ trong một thoáng thì với “Tuyết Đầu Mùa”, trái tim khách thưởng ngoạn dường như bị lây cái giá buốt, vẻ nên thơ của cảnh trí và tâm thần như bị đóng băng trong sự hoà hợp của màu sắc.

Ngắm “Mầm Sống”, dù người xem tranh là ai, Mỹ hay Việt cũng đều có cái cảm tưởng bơ vơ, lạc lõng khi đặt chân lên một vùng đất hoang vu xa lạ và đồng thời, một chút ấm áp, lạc quan khi nhìn về tương lai.

Một trong số những hoạ phẩm khác, chẳng hạn như “Thanh Tịnh”, người xem tranh như thấy mình đứng trước một thiền viện, giữa một không gian phẳng lặng, tâm hồn thanh thản với “sắc bất tịnh không, không bất tịnh sắc” của giáo lý nhà Phật. Nhưng đó chưa phải là tất cả những điều NTK muốn phô bày. “Bên Trong” và “Bên Ngoài”, hai tác phẩm khác trưng bày trong cuộc triển lãm còn gợi cho người ta sự tò mò và cảm nhận kỳ bí giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa tri giác và và vô tri giác.

Cuộc tìm kiếm “một cái gì đó” mà không gặp. “Một cái gì đó”, tự no, không phải là một quan niệm và cũng không phải là một phần của trí tuệ nhưng được hiểu là nguyên nhân của cảm giác, theo hội họa.

Paul Gauguin(1848-1903) trong một kiệt tác phẩm đã đặt dấu hỏi lớn về con người:”Chúng ta từ đâu tới? Chúng ta là ai? Chúng ta đi về đâu?”. Ngoài nỗi băn khoăn rất “người” như Paul Gauguin, NTK trong họa phẩm “Cát Bụi” còn bày tỏ viễn ảnh của ông về cuộc đời: “Cát bụi sẽ trở về với cát bụi”.

Xem tranh, biết tâm sự người. Tâm sự phản ảnh bản tính con người. Sống lưu lạc nơi xứ lạ, NTK cũng như hầu hết những người Việt chúng ta lúc nào cũng ấp ủ tình yêu quê hương và tinh thần nhân ái, đặc biệt là đối với người đồng chủng tộc. Ở NTK, tình yêu này được biểu lộ bằng những hoạ phẩm và trong ngôn ngữ của màu sắc còn bao hàm hảo ý xây dựng.

Thiên nhiên và cảm nhận. Anh sáng và bóng tối của cuộc đời. Thực tế và ảo ảnh đã cùng một lúc tồn tại qua sáng tác phẩm của NTK.

Mặc dù đã viết văn, làm báo, vẽ tranh, NTK vẫn cho là chưa đủ! Ong còn muốn đi sâu vào lòng người với tiếng nhạc, lời ca bằng hai tập nhạc “Quê Hương, Tình Yêu và Bạn Bè” và “Để Ngày Tháng Trôi” cùng một điã nhạc gồm 10 ca khúc và một băng nhạc có tám bài ca.

Quê Hương Tình Yêu và Bạn Bè dày 40 trang, kích thước 8.5X10.5, 12 ca khúc in trên giấy láng trắng, Thế Kỷ 21 xuất bản 1997. Bià mặt là hoạ phẩm của Đinh Cường in trên giấy láng xám. Phụ bản của các hoạ sĩ Nguyễn Thị Hợp, Đinh Cường, Nguyễn Đồng và Nguyễn Trọng Khôi. Tuyển tập nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết thay lời tựa, Đinh Cường giới thiệu và vài lời trân trọng của nhạc sĩ Phạm Duy.

Để Ngày Tháng Trôi dày 20 trang, khổ 5.5X8.5, 6 bài hát in trên giấy trắng mịn, Vàng Son xuất bản 2000. Bià mặt là hoạ phẩm Kỷ Niệm do tác giả vẽ và trình bày rất đơn giản và mỹ thuật.

 Nhạc phẩm của NTK, đa số bài viết ở cung thứ và mang những âm điệu buồn da diết.

Khi lắng nghe một bài hát, thông thường, người nghe có thể nhận thấy nhạc đề qua một vài câu hoặc ý tưởng nào đó được lập lại trong bản nhạc. Nhạc đề này có thể chỉ vài note hoặc kéo dài vài nhịp và gồm có nhịp điệu và hòa âm. Đôi khi cả hai đều được dùng trong cùng một bản nhạc. Mỗi khi nghe nhạc đề, khán, thính giả có cảm tưởng dường như đã được nghe ở một nơi nào đó từ trước cho nên chuỗi nhạc này khiến cho bài hát trở thành dễ nhớ. Có quá nhiều nhạc đề dồn nén trong một bản nhạc sẽ khiến cho người nghe khó nhớ và “khéo quá hoá vụng”!

Có thể đã hiểu rõ vấn đề then chốt này, cho nên, NTK đã chọn lựa những thanh âm căn bản và nhịp 4 phách đơn thông dụng 4/4 trong quá nửa số nhạc bản của hai tuyển tập. Cấu trúc phần nhiều cân phương và đôi khi không có điệp khúc, chẳng hạn như trong bản Tháng Ngày Qua với đoạn đầu từ :”Một bầu trời ….ngày tháng qua” và đoạn cuối từ “Ngày tháng qua….bao đời hợp tan”. Tuy nhiên, bố cục không nhất thiết phản ảnh sự đồng dạng trong toàn bộ nhạc phẩm của NTK, thí dụ như trong “Hà Nội và giọng nói em” . Đoạn đầu và đoạn cuối tương tự như nhau, nhưng đoạn giữa có hai tiểu đoạn với cách chuyển âm tạm gồm mười chữ trong không đầy một trường canh. Tựu chung, cách biến điệu giưã nhạc đề và nhịp điệu cũng như cách chuyển âm tương đối đơn giản trong nhạc NTK khiến cho thanh âm và hoà âm êm dịu và dễ nghe, dễ nhớ. Những bản nhạc, do đó, tự nó có sức truyền cảm nhẹ nhàng và len lỏi vào tâm khảm người nghe.

Đọc hoặc nghe nhạc NTK, người ta có ngay cảm tưởng lời ca vang âm hưởng của thơ và tác giả vẽ một bức tranh bằng lời trước khi đi vào tâm hồn người nghe bằng những thanh âm êm ái dịu dàng như tiếng mẹ hát ru thuở thiếu thời.

Tình yêu quê hương trong nhạc Trịnh Công Sơn được bày tỏ bằng những lời du ca với tiếng đạn bay, tiếng bom nổ, thây người bị đốn ngã và cái đau điếng hồn đến lịm người đi của thân phận da vàng trong cuộc chiến Việt Nam. Trong nhạc Phạm Duy có “anh trở về hòm gỗ cài hoa” và trong nhạc Hoàng Trọng và Dạ Chung có “con ễnh ương làm hồ trong chiếc nón sắt của anh”, nhưng trong nhạc NTK, tình yêu quê mẹ mang nặng nỗi buồn xa xứ mà văn hoá dị biệt không phải là đất dụng võ tốt cho những người vốn thường sinh hoạt với văn chương Việt Nam.

Tình yêu lứa đôi trong rừng nhạc Việt Nam quả thật là phong phú với nội dung thất tình chiếm đa số. Khuynh hướng lãng mạn với lời ca đắm đuối ước mơ của thế hệ tiền phong, theo thời gian , đã chuyển hướng sang khuynh hướng hiện thực cùng một chút tân lãng mạn với những lời lẽ đong đầy khổ đau, mất nhau vì chiến tranh, than vãn cho số phận con người và bất cần thế sự.

Nhạc tình Trịnh Công Sơn cả ý lẫn lời là những bài thơ tuyệt đẹp với bóng dáng, thân phận người con gái da vàng nhược tiểu và rung cảm hòa nhịp với tiếng bom nổ của “con tim mù loà”. Nhạc tình Phạm Duy đa dạng và dĩ nhiên, cũng có nước mắt khóc cho cuộc tình dang dở :”Nha Trang Ngày Về”, “Nghìn Trùng Xa Cách”, Muà Thu Chết” và “Tiễn Em” với lời là thơ của Cung Trầm Tưởng. Đưa em lên đồi mây mưa rồi thi vị hoá như trong “Cỏ Hồng”cũng có và “Đưa em tìm động hoa vàng” để quên thế sự như Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ “Gọi em là đóa hoa sầu” của Phạm Thiên Thư cũng có ! Những bài thơ của các thi sĩ Quang Dũng, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Trần Dạ Từ được cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc là những tình khúc thanh cao, tuyệt vời cho những đêm phòng trà. Nhạc tình của Ngô Thụy Miên trong sáng với những bài thơ bất hủ của cố thi sĩ Nguyên Sa. Đương nhiên,dù có kể cũng không hết những bài hát hay về tình yêu lứa đôi .

NTK cũng có tình tự đóng góp vào âm nhạc Việt Nam. Nhạc tình của ông là tiếng thở dài nuối tiếc, gợi nhớ kỷ niệm những tháng ngày tưởng đã vùi sâu, chôn chặt trong dĩ vãng với “Chiều viễn xứ buồn chơ vơ một mình, tôi ngồi nhớ mơ ai!” và “Còn một chút dư hương của người dành góp như bao kỷ niệm mỗi khi đông về ru lòng ấm lại mà quên”. Cô đơn và tương tư về cuộc tình lỡ được góp lại làm hành trang trong cuộc đời, gửi gấm tâm sự qua lời ca, nhạc phẩm NTK mỹ miều và theo tôi, đẹp như câu ca dao Việt Nam:

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm

NTK hát ở quê ta và quê người, hát trước công chúng và đàn đúm cùng bạn bè vì “cũng cần có nhau” như một thực trạng – như tâm sự gửi gấm qua một bản nhạc do ông sáng tác, phần khác cũng vì NTK là người của đám đông.

“… NTK là người vừa đệm đàn guitare, vừa hát rất hay, giọng khỏe và ấm”. Đó là nhận xét của Đinh Cường.

Dù đứng trên sân khấu ngoài trời hay trong một hý viện, tiếng hát NTK vẫn lọt vào tai người nghe dù đứng ở hàng cuối ngoài trời hay ngồi ở hàng ghế sau cùng của rạp hát mà không cần sự trợ giúp quá nhiều của hệ thống khuếch đại âm thanh. Vì là người viết nhạc nên về phần kỹ thuật, NTK hát vững vàng và rõ lời.

Chỉ có đam mê hát mới có thể đặt hết tâm hồn, hoà mình vào tiếng nhạc, lời ca. Dựa vào âm trình lên hoặc âm trình xuống, người ta phân định giọng ca nào có thể hát dễ dàng những note cao nhất hoặc thấp nhất. Phát âm rõ lời, theo đúng hình thức, giá trị trường độ của những note và giữ vững nhịp khi ca của phần kỹ thuật cũng chỉ đạt được 20% sự thành công, nhưng giọng truyền cảm của người hát đóng vai trò định đoạt 80%. Nếu say mê hát vì nghệ thuật, người ca sĩ đương nhiên trở thành một “nhạc cụ” để chuyển đạt nhạc và lời của tác giả tới người nghe.

Sau những buổi trình diễn chính thức ở những địa điểm công cộng, NTK thường dành nhiều thì giờ để gặp bạn và hát chung trong các buổi hậu văn nghệ. Phải nhìn những bọt bia trên râu mép NTK khi ôm đàn ngồi hát say sưa, người ta mới thực sự bắt gặp cái phong thái nghệ sĩ

và nhân tính vui hòa, dễ chinh phục lòng

người và hòa lẫn vào đám đông của nghệ nhân.

Và đàn hát cứ thế kéo dài, người đàn cứ liên tục đổi tay mới, người hát cứ tiếp tục luân phiên, người nghe cứ say mê thưởng thức và mặt trời trên lên bên ngoài khung cửa sổ lúc nào không hay.

Viết, nói về NTK chưa đủ vì không gì hay bằng tự mình tìm xem tranh, đọc tuyển tập nhạc, nghe băng và điã nhạc của tác giả.

Nhìn từ khía cạnh của kẻ bàng quan, NTK , đã tự họa cho mình một vóc dáng đã được xác định từ lâu trong nghệ thuật tạo hình và đồng thời đi khẩn hoang trong rừng nhạc Việt Nam để trồng xuống một bông hoa quí, dâng hiến cho đời. Qua sắc thái trong hội họa và thanh âm trong nhạc quê nhà, nhân dáng NTK hiện lộ rõ ràng trong sinh hoạt nghệ thuật, trong nghìn hoa dị thảo của văn học Việt Nam mà mỗi người chúng ta vẫn hằng mong đóng góp cho vẻ đẹp vĩnh cửu của quê hương gấm vóc, ngàn đời dấu yêu.

 

Nguyễn Anh Văn

 

Advertisements